Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Một số điểm mới của văn bản quy phạm pháp luật

( Cập nhật lúc: 24/11/2016  )
Luật Tổ chức chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung) có những điểm mới nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ nói chung và trong Ngành Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Kạn

I. Một số điểm mới của Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi) năm 2015

Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi) năm 2015, đã được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 19-6-2015, tại Kỳ họp thứ 9, có hiệu lực từ ngày 01-01-2016 (Luật mới). So với Luật tổ chức Chính phủ năm 2001, Luật mới đã được bổ sung nhiều nội dung, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động và phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tình hình mới.

1. Về vị t chức năng của Chỉnh phủ

Vị trí, chức năng của Chính phủ là vấn đề mấu chốt nhất, có ý nghĩa quyết định đến việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ và mối quan hệ giữa Chính phủ với các cơ quan khác. Với nhận thức đó, bên cạnh việc tiếp tục quy định Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan chấp hành của Quốc hội, Luật mới còn xác định Chính phủ là cơ quan “thực hiện quyền hành pháp”, để phù họp với quan điểm và nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp theo như quy định của Hiến pháp năm 2013.

Với chức năng của mình, Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất trong cả hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, trong đó bao gồm các cơ quan hành chính hiến định (Chính phủ, UBND) và các cơ quan hành chính không hiến định (bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND); đồng thời, là cơ quan thống nhất quản lý, điều hành các mặt kinh tế - xã hội của đất nước, quyết định chủ trương, chính sách, thể chế quản lý của Nhà nước trên phạm vi toàn quốc, từ đối nội đến đối ngoại, giải quyết các công việc phát sinh trong đời sống xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích họp pháp của công dân... Trong tố chức, điều hành về phương diện hành chính, không một cơ quan nào cao hơn Chính phủ. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định về hành chính của Chính phủ. Với chức năng chấp hành, Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội; chấp hành, tổ chức thi hành các đạo luật, các nghị quyết, quyết định của Quốc hội, chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước; giải trình trước Quốc hội về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân công... Quan hệ giữa Chính phủ với Quốc hội là quan hệ trên, dưới, Chính phủ không những chấp hành luật mà còn phải chấp hành Quốc hội.

Việc xác định Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp là thể hiện sự đổi mới, bước tiến lớn trong quá trình hội nhập quốc tế và tiếp thu quan điểm, giá trị chung của nhân loại, vốn dĩ xác định Chính phủ là thiết chế tập thể, thực hiện quyền hành pháp, tức là quyền hoạch định và điều hành chính sách quốc gia và thực hiện các chính sách, pháp luật do cơ quan lập pháp thông qua. Tuy nhiên, Chính phủ không phải là cơ quan thực hiện quyền hành pháp một cách độc lập, mà là cơ quan hành pháp của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đó là Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; việc thực hiện quyền hành pháp ở đây cũng không phải tuyệt đối thuộc về Chính phủ, mà còn có thể có các cơ  quan khác đảm nhiệm, như Quốc hội, Chủ tịch nước.

2. V  Chính phủ và cơ cấu t chức của Chính phủ

Luật mới quy định theo hướng tiếp tục sắp xếp, tổ chức lại cơ cấu tổ chức ngày càng tinh gọn, hợp lý hơn theo mô hình bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, tập trung các chức năng quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực vào các bộ, cơ quan ngang bộ. Theo đó, Luật mới tiếp tục quy định Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các phó thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, số lượng thành viên Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ trình Quốc hội quyết định. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, việc thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ do Chính phủ trình Quốc hội quyết định. Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Chủ tịch nước, là một thiết chế độc lập, có nhiệm vụ, quyền hạn riêng, vừa là người đứng đầu Chính phủ, vừa là người đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước, có nhiệm vụ lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia (Điều 4). Nhằm bảo đảm để Quốc hội gia tăng sự kiểm soát việc thành lập Chính phủ và việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, đồng thời bảo đảm tính linh hoạt, Luật mới tiếp tục không quy định cụ thế về cơ cấu sô lượng thành viên Chính phủ, cơ cấu tổ chức của Chính phủ, mà chỉ quy định có tính nguyên tắc theo hướng: Cả cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ và cơ cấu tố chức của Chính phủ đều do Quốc hội xem xét, quyết định theo từng nhiệm kỳ (Điều 2)... Tuy nhiên, việc trình Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ là vấn đề quan trọng, cần phải được thảo luận tập thể, quyết định theo đa số ý kiến, nên Luật mới đã quy định theo hướng chuyển từ thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ (theo Luật tổ chức Chính phủ năm 2001) sang thẩm quyền của Chính phủ thực hiện.

Xét về cơ cấu Chính phủ thì Phó Thủ tướng Chính phủ là thành viên Chính phủ, một chức danh Hiến định được lập ra để giúp Thủ tướng Chính phủ làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng Chính phủ không phải là một thiết chế độc lập, vì vậy khi giải quyết công việc, Phó Thủ tướng Chính phủ đều nhân danh Thủ tướng Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về trách nhiệm được phân công; đồng thời, với tư cách là thành viên Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ phải chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ.

Về bộ, cơ quang ngang bộ, Luật mới cơ bản vẫn kế thừa quy định của Luật tổ chức Chính phủ năm 2001. Theo đó, bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về một hoặc một số ngành, lĩnh vực và các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, khác với Luật tổ chức Chính phủ năm 2001, Luật mới đã bỏ quy định vê chức năng thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ và bổ sung chức năng tổ chức thi hành và kiểm tra việc thi hành pháp luật liên quan đên ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quôc (Điêu 39); đồng thời, quy định về Văn phòng Chính phủ theo hướng không những là bộ máy giúp việc của Chính phủ mà còn là bộ máy giúp việc của Thủ tướng Chính phủ (Điêu 41). Về địa vị pháp lý của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Luật mới cũng đã quy định theo hướng rõ ràng, cụ thể hơn, vừa với tư cách là thành viên Chính phủ vừa với tư cách là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, trong môi quan hệ với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và với chính quyền địa phương; đề cao vai trò, trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ về quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước.

3. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, thủ tướng Chỉnh phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

Luật mới quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ đã có sự chủ động và sáng tạo hơn; xác định rõ hơn, đồng bộ hơn hoạt động hành chính và hoạt động xây dựng, hoạch định chính sách, xây dựng và thực hiện chiến lược ở tầm quốc gia của Chính phủ. Theo đó, Luật mới đã quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ theo các lĩnh vực như: Tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật; kinh tế; đối ngoại và hội nhập quốc tế; tổ chức; về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, chế độ công vụ, công chức, viên chức và công tác thi đua khen thưởng; thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí... Các lĩnh vực nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ lại được phân theo hai nhóm (nhóm chức năng hành chính nhà nước cao nhất; nhóm chức năng thực hiện quyền hành pháp và chấp hành). Do đó, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ vừa bảo đảm tính cụ thể, vừa bảo đảm tính khái quát và tính ổn định, lâu dài.

Với chức năng là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, từ kinh tế, tài nguyên, môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu, khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch, y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân, chính sách xã hội, công tác dân tộc, công tác tôn giáo, quốc phòng, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, đến bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội, quyền con người, quyền công dân... Thực hiện Hiến pháp năm 2013, nhằm cụ thế hóa nguyên tắc kiểm soát quyền lực giữa lập pháp và hành pháp, hạn chế tình trạng gia tăng việc chia tách các đơn vị hành chính có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả quản lý điều hành của hệ thống hành chính nhà nước, tâm tư, tình cảm, phong tục, tập quán của các cộng đồng dân cư, Luật mới đã bỏ quy định về thẩm quyền của Chính phủ trong việc quyết định thành lập, giải thể, nhập chia, điều chỉnh địa giới hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (theo Hiến pháp năm 2013 thì thẩm quyền đã được giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội).

Với chức năng chấp hành, Chính phủ có trách nhiệm ban hành kịp thời và đầy đủ các văn bản pháp luật để thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước và để thực hiện các nhiệm vụ được giao (khoản 1 Điều 6); chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, về kết quả, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của bộ máy hành chính nhà nước, về các chủ trương, chính sách do mình đề xuất với Quốc hội; chịu trách nhiệm báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước một năm hai lần, báo cáo đột xuất khi Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước yêu cầu (Điều 27). Những quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật mới là một bước tiến thể hiện nhận thức rất rõ về vai trò, trách nhiệm hành pháp của Chính phủ trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, coi pháp luật là công cụ quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động quản lý điều hành của bộ máy hành chính nhà nước.

Với chức năng thực hiện quyền hành pháp, Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn: Hoạch định và điều hành chính sách quốc gia; xây dựng và trình Quốc hội các dự án luật; ban hành kế hoạch, chính sách cụ thể và những văn bản dưới luật đê thực thi các chủ trương, chính sách, luật; chỉ đạo, hướng dẫn, điều hành, giám sát việc thực hiện các kế hoạch, chủ trương, chính sách...

Về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ, Luật mới đã bổ sung, đồng thời quy định cụ thể, chỉ tiết hơn, nhằm xác định rõ vai trò của Thủ tướng Chính phủ vừa với tư cách là người đứng đầu Chính phủ, vừa là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực sự trở thành một thiết chế hữu hiệu đê giải quyết các vấn đề cụ thể phát sinh trong hoạt động của Chính phủ, tạo sự chủ động hơn trong lãnh đạo Chính phủ xây dựng, hoạch định kịp thời cơ chế, chính sách, đề xuất xây dựng thể chế... Thủ tướng Chính phủ quyết định và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước theo thấm quyền để bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính. Với vị trí là người lãnh đạo hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương, Thủ tướng Chính phủ là một thiết chế có quyền năng mạnh trong hệ thống hành chính nhà nước ở nước ta: Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan thuộc Chính phủ; giao quyền Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trước khi được Quốc hội phê chuẩn và Chủ tịch nước bổ nhiệm; tạm thời giao quyền Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong trường hợp chưa bầu được Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đình chỉ, cách chức Chủ tịch UBND cấp dưới khi không hoàn thành nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao hoặc vi phạm pháp luật; quyết định các tiêu chí, điều kiện thành lập hoặc giải thể các cơ quan chuyên môn đặc thù, chuyên ngành thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện; quyết định thành lập các cơ quan, tổ chức khác thuộc UBND cấp tỉnh; trình Ủy ban Thường vụ Quốc bội phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (Điều 28)... Tuy nhiên, bên cạnh được giao thêm quyền năng, thì Thủ tướng Chính phủ cũng được giao thêm trách nhiệm là thay mặt Chính phủ báo cáo công tác của Chính phủ, báo cáo công tác của chính Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước và trước nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (khoản 2 và 3 Điều 29).

Với tư cách là thành viên Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có nhiệm vụ, quyền hạn: Tham gia giải quyết các công việc chung của tập thê Chính phủ; cùng tập thể Chính phủ quyết định và liên đới chịu trách nhiệm vê các vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ; đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các chủ trương, chính sách, cơ chế, văn bản pháp luật cần thiết thuộc thâm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; tham dự các phiên họp của Chính phủ; thực hiện các công việc cụ thể theo ngành, lĩnh vực được phân công hoặc ủy quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; cùng các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ; thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân về những vấn đề quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý... (Điều 33) Với tư cách là người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang bộ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có nhiệm vụ, quyền hạn: Lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm cá nhân về mọi mặt công tác của bộ, cơ quan ngang bộ; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tổ chức triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án đã được phê duyệt, các nhiệm vụ của Bộ, cơ quan ngang bộ được Chính phủ giao; quyết định theo thẩm quyền các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của bộ, cơ quan ngang bộ; chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công; tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc; chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ, Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách; thực hiện công tác tổ chức cán bộ, khen thưởng, kỷ luật, quản lý tài sản của cơ quan, đơn vị; ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền... (Điều 34) Việc giao Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quyết định và chịu trách nhiệm về những vấn đề quản lý các ngành, lĩnh vực đế vừa đáp ứng yêu cầu thực tế đối với quản lý ngành, lĩnh vực, vừa giảm tình trạng quá tải công việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, khắc phục những công việc còn thay giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với các bộ, cơ quan ngang bộ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và loại bỏ những nhiệm vụ, quyền hạn chồng chéo, trùng lặp giữa các cơ quan, các cấp theo nguyên tắc “mỗi việc chỉ do một cơ quan, một cấp chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm đến cùng”.

Bên cạnh đó, so với Luật tổ chức Chính phủ năm 2001, Luật mới đã phân định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn giữa Chính phủ với Thủ tướng Chính phủ và với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; xác định cụ thể, chặt chẽ mối quan hệ, nhất là sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với chính quyền địa phương; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, thực hiện nghiêm nguyên tắc cơ quan cấp dưới phải phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo, chấp hành nghiêm chỉnh quyết định của cơ quan cấp trên; chuyển nhiệm vụ lãnh đạo, điều hành hệ thống hành chính nhà nước từ Chính phủ sang Thủ tướng Chính phủ... (từ Điều 6 đến Điều 26). Những điếm mới này có ý nghĩa nhằm xây dựng Chính phủ có khả năng chủ động, sáng tạo cao và kiến tạo phát triển, coi trọng công tác xây dựng, hoạch định chính sách, nâng cao chất lượng các chính sách phát triển đất nước với tầm nhìn chiến lược, phù họp với xu thế phát triển của thời đại, một Chính phủ thực sự phục vụ nhân dân và xã hội có vai trò mở đường và thúc đẩy phát triền.

Những điểm mới cơ bản của Luật Tổ chức chính quyền địa phưong

Ngày 19/6/2015, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật này đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và các chủ trương, định hướng của Đảng về chính quyền địa phương; đồng thời kế thừa những nội dung hợp lý và sửa đối, bổ sung các bất cập, vướng mắc trong 12 năm thực hiện Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 2003. Luật tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2016 và có 08 chương, 143 điều so với Luật Tố chức Hội đồng nhân dân và úy ban nhân dân năm 2003 thì tăng 02 chương, 03 điều. Luật có hiệu lực thi hành kế từ ngày 01/01/2016

II. Một số điểm mới của Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015

1. Về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương và của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.

Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính theo hướng chủ yếu tập trung ở cấp tỉnh, giảm dần xuống cấp huyện đến cấp xã đế tránh tình trạng dồn việc về cấp cơ sở mà không tính đến khả năng đáp ứng của từng câp chính quyên; nhiệm vụ, quyên hạn của chính quyền địa phương ở địa bàn nông thôn tập trung thực hiện quản lý theo lãnh thố; ở địa bàn đô thị chú trọng thực hiện quản lý theo ngành, lĩnh vực.

Quy định chung về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương phải thực hiện như tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn; quyết định những vấn đề của địa phương trong phạm vi được phân quyền, phân cấp; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền... Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND trên các lĩnh vực nhằm thể hiện rõ sự gan kết chặt chẽ, thống nhất giữa hai thiết chế HĐND và UBND hợp thành chính quyền địa phương.

+ Với tính chất là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND quyết định các vấn đề của địa phương như quyết định ngân sách; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh trong cơ cấu của chính quyền địa phương; quyết định cảữ biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật, các biện pháp bảo đảm việc thực hiện các nhiệm vụ về kinh tế, tài nguyên, môi trường, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; giám sát việc tuân theo Hiên pháp, pháp luật và việc thực hiện các nghị quyết của HĐND trên địa bàn.

+ Với tính chất là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND có nhiệm vụ xây dựng, trình HĐND quyết định những nội dung thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và to chức thực hiện các nghị quyết này sau khi được HĐND thông qua. UBND còn có nhiệm vụ quản lý nhà nước về các lĩnh vực trên địa bàn trong phạm vi được phân quyền, phân cấp, ủy quyền.

+ Với tính chất là người đứng đầu UBND, Chủ tịch ƯBND có nhiệm vụ lãnh đạo và điều hành công việc của UBND, lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các nhiệm vụ thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của HĐND và UBND, lãnh đạo và chịu trách nhiệm vế hoạt động của hệ thông hành chính nhà nước trên địa bàn, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính ở địa phương.

Quy định nhiệm vụ, quyền hạn đặc trưng của chính quyền đô thị nhằm thể hiện sự khác biệt với chính quyền nông thôn.

+ Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở thành phố, thị xã ngoài việc quyết định các vấn đề của địa phương như đối với địa bàn nông thôn, còn tập trung quyết định các vấn đề quy hoạch phát triển đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, quản lý và tổ chức đời sống dân cư đô thị...

+ Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương quận và phường đã được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu quản lý thống nhất, liên thông trong khu vực nội thành, nội thị tại các đô thị. Ngoài việc thực hiện chức năng đại diện và giám sát theo quy định chung, tập trung thực hiện 02 nhóm nhiệm vụ liên quan đến việc quyết định các vấn đề ở địa phương, gồm: (1) Thông qua ngân sách quận, phường theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và (2) Bầu nhân sự của HĐND, UBND cùng cấp.

2. Về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân.

Quy định tiêu chuẩn, số lượng đại biểu HĐND các cấp (chuyển từ Luật Bầu cử đại biểu HĐND trước đây sang quy định tại Luật này), trong đó có việc tăng thêm số lượng đại biểu HĐND ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ 95 lên 105 đại biểu.Tăng cường vai trò của Thường trực HĐND, bảo đảm hoạt động thường xuyên giữa 2 kỳ họp HĐND; quy định rõ Thường trực HĐND họp thường kỳ mỗi tháng 1 lần. Thay chức danh ủy viên Thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp huyện bằng chức danh Phó Chủ tịch HĐND; mở rộng thành viên Thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp huyện gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các úy viên là Trưởng Ban của HĐND; Thường trực HĐND cấp xã vẫn gồm Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND. Ở HĐND thành phố trực thuộc trung ương thành lập thêm Ban đô thị; ở HĐND cấp xã thành lập thêm 2 ban là Ban Pháp chế và Ban Kinh tế - Xã hội. Thành viên các Ban HĐND cấp xã hoạt động kiêm nhiệm.

Quy định đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách. Theo đó, Chủ tịch HĐND, Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch HĐND, Phó Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; ở cấp xã, quy định Phó Chủ tịch ríĐND cấp xã là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; Trưởng ban, Phó Trưởng ban và ủy viên của các Ban của HĐND xã hoạt động kiêm nhiệm. Quy định khi có từ 10% trở lên trong tống số cử tri trên địa bàn cấp xã yêu cầu, Thường trực HĐND cấp xã có trách nhiệm xem xét tổ chức kỳ họp HĐND để bàn về nội dung kiến nghị của cử tri.

Đối với HĐND cấp tỉnh, cấp huyện thì thành lập Tổ đại biểu HĐND; HĐND cấp xã không thành lập Tổ đại biểu HĐND.

3. Về cơ cấu tổ chức và hoạt động của y ban nhân dân

Thứ nhất, quy định thành viên UBND cấp tỉnh, cấp huyện gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc ƯBND, ủy viên phụ trách quân sự, ủy viên phụ trách công an để bảo đảm nguyên tắc làm việc tập thể của UBND bao quát đầy đủ các lĩnh vực chuyên môn, tạo điều kiện thực hiện việc giám sát của HĐND và lấy phiếu tín nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND và cơ quan quân sự, công an ở địa phương; quy định thành viên UBND cấp xã gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và ủy viên phụ trách quân sự, ủy viên phụ trách công an.

Thứ hai, quy định số lượng Phó Chủ tịch UBND các cấp theo phân loại đơn vị hành chính, cụ thể như sau:

+ Đối với cấp tỉnh: Thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có không quá 05 Phó Chủ tịch UBND; các thành phố trực thuộc trung ương còn lại và các tỉnh loại I có không quá 04 Phó Chủ tịch UBND; tỉnh loại II và loại III có không quá 03 Phó Chủ tịch UBND.

+ Đối với cấp huyện: Loại I có không quá 03 Phó Chủ tịch UBND; loại II và loại III có không quá 02 Phó Chủ tịch UBND.

+ Đối với cấp xã: Loại I có không quá 02 Phó Chủ tịch UBND; Loại II và loại III có 01 Phó Chủ tịch UBND.

Thứ ba, quy định kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND do người đứng đầu cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp phê chuẩn, trường hợp không phê chuẩn thì phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do và yêu cầu HĐND tố chức bầu lại chức danh không được phê chuẩn. Riêng đối với chức danh ủy viên UBND không thực hiện việc phê chuẩn kết quả bầu cử như Luật năm 2003. Chủ tịch, Phó Chủ tịch và ủy viên UBND thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình ngay sau khi được HĐND bầu.

Thứ tư, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể UBND và Chủ tịch ƯBND theo hướng đề cao trách nhiệm của Chủ tịch UBND trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình và trong việc điều động, cách chức, đình chỉ chức vụ đối với Chủ tịch UBND cấp dưới trực tiếp, chỉ định quyền Chủ tịch UBND cấp dưới trực tiếp trong trường hợp khuyết Chủ tịch UBND giữa hai kỳ họp HĐND.

Thứ năm, quy định UBND cấp xã mỗi năm có trách nhiệm tổ chức ít nhất một lần hội nghị trao đổi, đối thoại với Nhân dân về tình hình hoạt động của UBND và những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của công dân ở địa phịrơng. Ngoài những điểm mới, Luật còn sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể về tổ chức chính quyền địa phương trong trường hợp thay đổi địa giới đơn vị hành chính và các trường hợp đặc biệt khác để khắc phục những bất cập trong quá trình thực hiện Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003

III. Những điểm mới của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật ban hành VBQPPL năm 2015 Luật sổ:

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13 ngày 22 tháng 06 năm 2015 gồm 17 chương, 173 Điều, cơ bản đã kế thừa và sửa đổi, bổ sung, khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đông nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004. Đồng thời, thống nhất chung việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của trung ương và địa phương với nhiều điểm mới quan trọng.

1. Xác định rõ phạm vi điều chỉnh của Luật

So với Luật ban hành VBQPPL năm 2008 và Luật ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, Luật ban hành VBQPPL năm 2015 đã xác định rõ phạm vi điều chỉnh của Luật. Theo đó, Luật mới đã quy định nguyên tắc, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; không quy định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp. Đồng thời, có sự thay đổi quan trọng so với hai Luật ban hành VBQPPL trước đó khi quy định một điều riêng về giải thích từ ngữ. Một số từ ngữ được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định trong các văn phạm pháp luật có liên quan đã được thực tế kiểm nghiệm như: Quy phạm pháp luật; Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật; Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Cùng với đó, xuất phát từ ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn của khái niệm văn bản quy phạm pháp luật, nhằm khắc phục hạn chế trong việc phân biệt khái niệm văn bản quy phạm pháp luật với văn bản hành chính thông thường và những văn bản khác của cơ quan nhà nước được ban hành trong thời gian qua, Luật mới đã bổ sung khái niệm quy phạm pháp luật, đồng thời hoàn thiện hơn khái niệm văn bản quy phạm pháp luật (Điều 2 và Điều 3).

2. Phân định rõ thẩm quyền ban hành VBQPPL từ trung ương đến địa phương

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013 và các Luật về tổ chức bộ máy nhà nước, Luật ban hành VBQPPL năm 2015 đã giảm được một số hình thức văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời quy định rõ ràng, chặt chẽ hơn về nội dung ban hành các hình thức văn bản quy phạm pháp luật như bỏ hình thức thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; các chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp; chỉ giữ lại hình thức nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Luật mới cũng quy định cụ thể thẩm quyền và nội dung ban hành VBQPPL đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở cấp trung ương và địa phương; khắc phục tình trạng quy định dàn trải, thiếu rõ ràng ở các Luật trước đó; phân định rõ thẩm quyền ban hành VBQPPL của chính quyền cấp tỉnh, huyện, xã và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (từ Điều 15 đến Điều 30).

3. Nâng cao trách nhiệm và đổi mới quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL

Khắc phục những hạn chế của 2 Luật ban hành VBQPPL trước đó, Luật ban hành VBQPPL năm 2015 quy định riêng 1 Điều về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Điều 7) theo 3 nhóm đối tượng gồm: Nhóm các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình, soạn thảo dự án dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; Nhóm các cơ quan thẩm định, thẩm tra, cơ quan tổ chức tham gia góp ý kiến và Nhóm các cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ngoài ra, tại khoản 8 Điều 7 Luật ban hành VBQPPL năm 2015 cũng quy định cụ thể trách nhiệm của cá nhân trong việc xây dựng, ban hành VBQPPL.

Luật năm 2015 cũng đã đổi mới cơ bản quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL theo hướng tách bạch quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị định và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, trong đó tập trung quy định về quy trình xây dựng chính sách theo hướng chính sách được thông qua, phê duyệt trước khi bắt đầu soạn thảo văn bản; sửa đoi một số quy định trong quy trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật và đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản pháp luật của một số chủ thể khác.

Cụ thể, Luật ban hành VBQPPL năm 2015 đã bổ sung quy trình xây dựng chính sách; sửa đổi một số quy định trong quy trình soạn thảo, thẩm định, thấm tra, xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật; đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản pháp luật của một số chủ thể khác...

Bên cạnh đó, Luật ban hành VBQPPL năm 2015 không quy định về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ Quốc hội mà chỉ quy định Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm. Điều này nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật năm 2008 bởi quy định về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ Quốc hội (5 năm) là quá dài, khó khả thi do Chương trình này phải thường xuyên điều chỉnh để phù họp với điều kiện kinh tế- xã hội phát triển nhanh chóng của đất nước. Do đó, việc xây dựng, ban hành Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cho cả nhiệm kỳ Quốc hội là không cần thiết.

4. Tăng cường tính công khai, minh bạch và quy định cụ thể những hành vi bị nghiêm cấm

Luật ban hành VBQPPL năm 2015 đã bổ sung nhiều quy định nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL như quy định việc tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Điều 6); việc bắt buộc cơ quan chủ trì soạn thảo phải giải trình tiếp thu ý kiến; việc đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật (Điều 150); việc đăng tải và đưa tin văn bản quy phạm pháp luật (Điều 157)...

Luật ban hành VBQPPL năm 2015 quy định cụ thể những hành vi bị nghiêm cấm, qua đó góp phần tăng cường tính hiệu quả và khả thi trong việc xây dựng và ban hành VBQPPL. Tại Điều 4, Luật nghiêm cấm hành vi ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; Ban hành văn bản không thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp nhưng có chứa quy phạm pháp luật; Ban hành văn bản quy phạm pháp luật không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định. Đồng thời nghiêm cấm các văn bản quy phạm pháp luật của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Tổng Kiểm toán Nhà nước; Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp quy định thủ tục hành chính, trừ trường họp được luật giao nhằm bảo đảm tốt hơn quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân theo tinh thần mới của Hiến pháp năm 2013.

5. Bổ sung các trường hợp xây dựng, ban hành VBQPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn

Để khắc phục những hạn chế, bất cập trước đó, Luật ban hành VBQPPL năm 2015 đã bỏ một số quy định của của Luật ban hành VBQPPL năm 2008, đồng thời bố sung một số trường hợp như: Trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp; trường hợp đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nố; Trường hợp cấp bách đế giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn theo quyết định của Quốc hội; Trường hợp để ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật trong một thời hạn nhất định; Trường hợp cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành (Điều 146).

6. Bổ sung nhiều điều kiện bảo đảm nguồn lực xây dựng, ban hành VBQPPL

Nếu như Luật ban hành VBQPPL năm 2008 và Luật ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 chỉ có các quy định về kinh phí xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thì tại Luật ban hành VBQPPL năm 2015 đã bổ sung thêm nhiều điều kiện nhằm bảo đảm nguồn lực xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật như: Nhà nước có chính sách thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ, công chức tham gia xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ quy định tại Luật này; hiện đại hóa phương tiện, hạ tầng kỹ thuật; bảo đảm kinh phí cho hoạt động xây dựng chính sách, soạn thảo, thấm định, thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Điều 171).

Như vậy, sau khi chính thức có hiệu lực thi hành, Luật ban hành VBQPPL năm 2015 sẽ góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập của công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trước đó, đồng thời là nền tảng pháp lý quan trọng đế hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta trong thời gian tới./.

Tác giả:  Hoàng Khởi
Nguồn:  QLLĐVL
Sign In